Tin tức

Cứ mỗi phút trôi qua có hàng triệu sản phẩm nhựa được tiêu thụ, cùng với tình hình rác thải nhựa trên thế giới, thì thực trạng rác thải nhựa ở Việt Nam đang ngày càng báo động và trở thành mối quan tâm hàng đầu. Vậy hãy cùng tìm hiểu tình trạng rác thải nhựa ở Việt Nam hiện nay như thế nào và lợi ích của nhà máy tái chế rác thải – Recycle plant Vietnam mang đến những lợi gì gì nhé!

Rác thải nhựa ở Việt Nam đang là vấn đề cấp bách cần được quan tâm
Rác thải nhựa ở Việt Nam đang là vấn đề cấp bách cần được quan tâm

Tìm hiểu khái niệm về rác thải nhựa 

Nếu bạn đã từng sử dụng qua các vật dụng bằng nhựa chắc hẳn sẽ hiểu rằng, rác thải nhựa là cụm từ dùng để chỉ chung những sản phẩm làm bằng nhựa đã qua sử dụng hoặc không được dùng đến và bị đem vứt bỏ. 

Rác thải nhựa ở Việt Nam bao gồm: túi nhựa, chai nhựa, cốc nhựa, ống hút nhựa, đồ chơi cũ bằng nhựa,… những sản phẩm này có đặc điểm là thời gian phân hủy lâu, có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn năm. Trong đó chai nhựa chiếm phần lớn trong lượng rác thải nhựa hiện.

Tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa ở Việt Nam rất đáng báo động   

Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng rác thải nhựa nhiều nhất thế giới và đứng thứ 4 trên 20 quốc gia ở nhóm đầu, với khoảng 730.000 tấn rác thải nhựa bị đổ ra biển mỗi năm. Theo báo Môi trường & Đô thị đưa tin, trong tổng số các loại rác thải nhựa thải ra môi trường thì có hơn 50% là từ đồ nhựa dùng 1 lần, và con số này đang không ngừng tăng lên mỗi ngày. 

Bởi vì đồ nhựa dùng một lần rất tiện ích với cuộc sống bận rộn vì tính nhanh, gọn, nhẹ, sau khi sử dụng chúng ta không cần mất công chùi rửa. Thế nhưng sự tiện lợi này đi kèm với nguy hại cực lớn cho môi trường và cả sức khỏe của chính mỗi con người chúng ta. 

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên & Môi trường thì mỗi năm, Việt Nam thải ra môi trường 1,8 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó có 0,28 triệu – 0,73 triệu tấn thải ra biển (tức là chiếm khoảng 6% tổng rác thải nhựa ra biển của toàn thế giới). Chỉ riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và nilon. Trong đó, cứ 4.000 – 5.000 tấn rác thải mỗi ngày thì đã có 7% – 8% là rác thải nhựa, nilon.

Với thực trạng xả rác thải nhựa ở Việt Nam như vậy, chẳng mấy chốc Việt Nam sẽ chìm trong biển rác nhựa và phải đối mặt với nguy cơ “ô nhiễm trắng” trầm trọng. 

Vấn đề xử lý và cần có nhà máy tái chế rác thải – Recycle plant Vietnam sẽ là một nhu cầu vô cùng cấp bách và qua trọng hơn bao giờ hết mang đến một giải pháp xử lý rác thải nhựa hoàn hảo và hợp lý.

Rác thải nhựa ở Việt Nam đang là vấn đề cấp bách cần được quan tâm

Lợi ích của nhà máy tái chế rác thải – Recycle plant Vietnam khi tái chế rác thải nhựa 

Lợi ích của việc sử dụng nhà máy tái rác thải nhựa ở Việt Nam rất nhiều, nhưng chúng ta sẽ quy về 4 vấn đề chính:

Giảm lượng rác thải tại các bãi rác:

Tại các bãi tập rác thì có rất nhiều loại rác từ dễ cho đến khó phân hủy. Tùy vào mức độ phân hủy, nhưng chúng đều sản sinh ra vô vàn các độc tố ra ngoài môi trường. Nhà máy tái chế rác thải nhựa ở Việt Nam giúp giảm lượng rác thải tại các bãi tập rác, song song ta cũng đã hạn chế lượng thải các độc tố ra ngoài môi trường

Giảm ô nhiễm một cách đáng kể:

Như đã nói ở trên, việc tái chế rác thải giảm ô nhiễm môi trường. Đây là một việc vô cùng quan trọng. Khi mà các lượng rác thải được tái chế và sẽ ít bị đốt hay chôn lấp.  Tránh gây tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước, không khí và đất.

Giảm tiêu thụ năng lượng:

Việc tái chế rác thải hay phế liệu tạo ra thành sản phẩm mới, sẽ tốn ít năng lượng hơn so với việc tạo các sản phẩm đấy từ các nguồn nguyên chất.

Giảm chi phí:

Việc tái sử dụng sản phẩm tái chế từ rác thải sẽ tiết kiệm không ít chi phí cho nguồn tài nguyên của các công ty, nhà máy, xí nghiệp. Ngoài ra còn tiết kiệm chi phí xử lý rác thải một cách hợp lý

Như vậy, để khắc phục vấn đề rác thải nhựa tại Việt nam, cần có lộ trình, giải pháp thu hút đầu tư và công nghệ các lĩnh vực: Giảm thiểu, phân loại tại nguồn, tăng cường khả năng tái sử dụng, tái chế các thành phần rác thải nhựa; Sử dụng vật liệu thay thế túi nilon và sản phẩm nhựa dùng một lần; Công nghệ tái chế rác thải túi nilon, rác thải nhựa. Từ đó đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe của chính bạn.

VTV.vn – Khoảng 1/3 trong 3,9 triệu tấn rác thải nhựa ở Việt Nam được tái chế khiến nền kinh tế lãng phí từ gần 3 tỷ USD mỗi năm.

Ngày 29/9, IFC và Ngân hàng Thế giới công bố báo cáo Nghiên cứu Thị trường cho Việt Nam – Cơ hội và rào cản đối với tuần hoàn nhựa.

Theo báo cáo, chỉ 1,28 triệu tấn (33%) trong 3,9 triệu tấn nhựa các loại sử dụng phổ biến được thải ra hàng năm tại Việt Nam được thu hồi và tái chế. Nghiên cứu ước tính rằng nền kinh tế đã lãng phí 75% giá trị vật liệu của nhựa, tương đương từ 2,2 – 2,9 tỷ USD mỗi năm.

Điểm thu mua rác thải nhựa tại làng Triều Khúc, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội (Ảnh: Báo Đầu tư)

Nhiều nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tái chế nhựa thấp ở Việt Nam như: thiếu nhu cầu bền vững đối với nhựa tái chế tại địa phương, khả năng tiếp cận tài chính của đơn vị tái chế, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ngoài ra, tỷ lệ tái chế nhựa thấp còn do nguồn cung không đều và có rủi ro từ khu vực phi chính thức, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu phế liệu nhựa, không có tiêu chuẩn thiết kế để tái chế, và hệ thống quản lý chất thải ưu tiên thu gom và xử lý hơn so với tái chế.

Theo Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Carolyn Turk, hiện đầu tư vào hạ tầng quản lý rác thải vẫn chưa bắt kịp tốc độ xả thải. “Khu vực nhà nước và tư nhân cần hợp tác để giải quyết vấn đề kinh tế, môi trường và xã hội phức tạp này, đồng thời thúc đẩy các chính sách và tăng cường đầu tư để giúp tận dụng triệt để giá trị của vật liệu nhựa”, bà Turk cho hay.

Nghiên cứu đã đề xuất 8 giải pháp và 29 hành động để Việt Nam giải phóng thêm giá trị vật liệu thông qua tái chế nhựa. Một số khuyến nghị đáng chú ý như: mở rộng quy mô ngành công nghiệp tái chế nội địa bằng cách cải thiện môi trường thuận lợi cho đầu tư của khu vực tư nhân; tăng cường năng lực quản lý rác thải; thiết lập “mục tiêu về hàm lượng tái chế” đối với các sản phẩm phổ biến đến tay người sử dụng; yêu cầu bắt buộc phải thực hiện các tiêu chuẩn “thiết kế để tái chế” đối với các sản phẩm nhựa, đặc biệt đối với bao bì…

Nghiên cứu của Nhóm Ngân hàng Thế giới sử dụng phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị nhựa để xác định cách thức các loại nhựa phổ biến được sản xuất, sử dụng, quản lý ở Việt Nam và khuyến khích tăng cường phân loại, thu gom, tái chế rác thải để tận dụng hết giá trị của vật liệu nhựa.

Giám đốc Quốc gia IFC phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào Kyle Kelhofer cho biết, một nền kinh tế tuần hoàn có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam để đạt được các mục tiêu tăng trưởng carbon thấp. Tái chế nhựa không chỉ giải quyết vấn đề ô nhiễm nhựa mà còn giúp giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm các nguồn nguyên vật liệu có giá trị.

“Nâng cao lợi ích kinh tế của việc tái chế nhựa sẽ giúp huy động đầu tư nhiều hơn của khu vực tư nhân để giải quyết hiểm họa ô nhiễm nhựa, đồng thời hỗ trợ các ngành quan trọng như du lịch, vận tải biển và thủy sản, vốn đang bị ảnh hưởng nặng nề”, ông Kyle Kelhofer nhận định.

Nguồn : Hiệp Hội Nhựa VN

Share

Hoạt động tái chế có thể gây hại cho môi trường, làm tổn thương quá trình chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn nếu không kiểm soát được chất lượng.

                                                                        Chai nhựa trong suốt dễ tái chế hơn chai nhựa màu.

Mô hình kinh tế tuần hoàn hoạt động dựa trên nguyên tắc đưa chất thải quay ngược trở lại làm đầu vào cho sản xuất, qua đó giảm thiểu lượng rác thải phát sinh ra môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Tuy nhiên, mô hình kinh tế tuần hoàn chỉ thực sự đạt hiệu quả nếu sản phẩm tái chế đạt chất lượng tốt, có tính cạnh tranh cao. Đây cũng là cách để đảm bảo chất thải có thể tiếp tục trở thành nguyên liệu đầu vào cho sản xuất.

Ngược lại, sản phẩm tái chế có chất lượng thấp khiến nguyên vật liệu sau khi thu hồi trở nên khó xử lý, tái chế hơn, đồng thời tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây hại cho người tiêu dùng. Các sản phẩm tái chế có chất lượng thấp là một phần nguyên nhân đánh mất thiện cảm của người tiêu dùng, gây khó khăn cho đầu ra của sản phẩm tái chế.

Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều sản phẩm tái chế, đặc biệt là sản phẩm làm từ nhựa, ni lông đang xuất hiện tràn lan trên thị trường. Những sản phẩm này thường được làm thành đồ dùng một lần hoặc các vật dụng hàng ngày như bàn, ghế, xô, chậu…

Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này là do các tạp chất bị lẫn vào trong rác thải không được loại bỏ hoàn toàn trong quá trình tái chế. Bên cạnh đó, một số cơ sở tái chế còn cố tình trộn lẫn tạp chất để làm tăng khối lượng, giảm giá thành, tạo ra sản phẩm kém bền và có khả năng gây nguy hại.

Hiện tại, Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) quy định công cụ chính sách về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), yêu cầu nhà sản xuất, nhập khẩu phải có trách nhiệm tái chế, xử lý hoặc đóng góp vào công tác tái chế, xử lý rác thải phát sinh từ quá trình tiêu thụ sản phẩm.

Ông Fausto Tazzi, Phó chủ tịch Liên minh Tái chế bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) nhận định, để công cụ EPR phát huy được vai trò trong quản lý chất thải rắn, bên cạnh việc đặt ra tỷ lệ tái chế bắt buộc, việc kiểm soát chất lượng tái chế cũng cần được áp dụng chặt chẽ.

Giải pháp cho chất lượng tái chế

Yếu tố tiên quyết để thiết lập mô hình kinh tế tuần hoàn, theo PRO Việt Nam nằm ở tỷ lệ thu gom và phân loại rác thải. Luồng rác thải “sạch” sau khi phân loại đúng cách hạn chế nguy cơ bị lẫn tạp chất trong quá trình xử lý, đồng thời giúp tiết giảm chi phí, tăng cường hiệu quả hoạt động của đơn vị tái chế.

Nâng cao tỷ lệ thu gom, tái chế gắn liền với nhận thức và hành vi của người tiêu dùng. PRO Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ hoàn thành công tác giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi thải rác của người tiêu dùng, đặt nền móng cho mô hình kinh tế tuần hoàn.

Một yếu tố khác có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực tới chất lượng tái chế, cũng là kỳ vọng của công cụ chính sách EPR là việc doanh nghiệp chủ động thay đổi thiết kế sản phẩm, sử dụng chất liệu dễ thu gom, tái chế hơn.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã và đang thực hiện việc này như một cách để thể hiện trách nhiệm đối với môi trường và xã hội. Một số thành viên của PRO Việt Nam như Coca Cola, La Vie, Pepsico đã sử dụng chai nhựa trong suốt thay thế cho chai nhựa màu để chai nhựa có thể dễ dàng tái chế sau khi sử dụng.

Bên cạnh đó, năng lực của đơn vị, doanh nghiệp tái chế cũng quyết định tới chất lượng tái chế và tính khả thi của mô hình kinh tế tuần hoàn. Năng lực bao gồm trình độ về công nghệ, sáng kiến cho hoạt động tái chế cũng như trách nhiệm và ý thức của đơn vị tái chế.

Hiện tại, PRO Việt Nam tiến hành hợp tác với các doanh nghiệp, đơn vị và tổ chức trong và ngoài nước để nâng cao năng lực tái chế. Một số đối tác có thể kể đến như Công ty giấy Đồng Tiến, VEOLIA, URENCO, Dự án Suy nghĩ lại về nhựa…

Theo TheLEADER

Share
Luật BVMT đã được Quốc hội thông qua tháng 11 năm 2020 đưa ra quy định bổ sung về EPR. Khi các quy định chi tiết về EPR có hiệu lực từ ngày 1/1/2022, các doanh nghiệp sẽ là đối tượng chịu tác động trực tiếp, do đó đã đến lúc họ cần sẵn sàng chuẩn bị cho việc thực EPR tại Việt Nam.
Mời các bạn xem video về những quan điểm và chia sẻ của một số doanh nghiệp trong nhóm ngành hàng bao bì, một trong 6 nhóm thuộc đối tượng thực hiện EPR theo quy định mới của luật. Video do IUCN và Vụ Pháp chế, Bộ TNMT sản xuất trong khuôn khổ dự án Marplasticcss do Sida tài trợ và Chương trình đối tác chiến lược IUCN-PROVN.
👉 Xem tại đây:
Share

Trách nhiệm tái chế của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu theo quy định tại Điều 54 Luật BVMT 2020 là một bước phát triển mới so với Điều 87 Luật BVMT 2014, theo đó Luật BVMT 2020 quy định rõ hơn cơ chế thực hiện trách nhiệm này: , theo đó “Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc, trừ các sản phẩm, bao bì xuất khẩu hoặc tạm nhập, tái xuất hoặc sản xuất, nhập khẩu cho mục đích nghiên cứu, học tập, thử nghiệm.” và được lựa chọn thực hiện trách nhiệm của mình theo một trong các hình thức: Tổ chức tái chế sản phẩm, bao bì; hoặc Đóng góp tài chính vào Quỹ BVMT Việt Nam để hỗ trợ tái chế sản phẩm, bao bì. Như vậy, lần sửa đổi này, Luật đã quy định cơ chế thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu (NSX, NNK) một cách rõ ràng hơn. Tuy quy định này chỉ mang tính nguyên tắc nhưng đã thể hiện được sự tiếp cận đầy đủ hơn mô hình trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR: Extended Producer Responsibility) so với Luật BVMT 2014.

1. Mô hình chung về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR)

– Khái niệm EPR (Extended Producer Responsibility- trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) trong việc quản lý chất thải, là một công cụ quản lý bằng pháp luật được thiết kế dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; ở đó trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm của mình được mở rộng đến giai đoạn sau sử dụng nhằm thu gom được ở giai đoạn cuối của vòng đời sản phẩm để có thể phân loại trước khi xử lý mà chủ yếu là tái chế.

Trong mô hình này, trách nhiệm thu gom, tái chế là cốt lõi của hệ thống, tuy nhiên để việc thu gom, tái chế được thực hiện hiệu quả thì còn có rất nhiều các công cụ hỗ trợ cần được thực hiện một cách đồng bộ. Đối với việc thu gom, tái chế, nhà sản xuất có thể tự mình thực hiện việc thu gom, tái chế hoặc thuê tổ chức thu gom tái chế, hoặc liên kết với nhau để tổ chức việc thu gom, tái chế hoặc nhà nước lập ra tổ chức để giúp các nhà sản xuất thực hiện trách nhiệm mở rộng của mình.

Trong bài này, tôi xin giới thiệu về hai mô hình cuối (liên lết với nhau để tổ chức việc thu gom, tái chế hoặc nhà nước lập ra tổ chức thu gom, tái chế). Về cơ bản hai cách thức này có chung một mô hình được sơ đồ hóa như sau:

Cốt lõi của hệ thống EPR

Hình 1. Mô hình cơ bản của hệ thống EPR

Cơ chế EPR đối với bao bì xuất hiện từ thập niên 1990, hiện đã có mặt ở nhiều nước châu Á (ví dụ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) và phần lớn các nước thành viên Liên minh châu Âu cũng như ở nhiều khu vực khác trên thế giới. Trong cơ chế này, Tổ chức thực hiện trách nhiệm của nhà sản xuất (PRO: Producer Responsibility Organisation) là trung tâm của hệ thống. Tùy vào thực tiễn của các nước mà các PRO được tổ chức thành các loại khác nhau:

– Hàn Quốc thì PRO của ngành bao bì là KPRC do các nhà sản xuất nước đóng chai, mặt hàng đóng gói, bao bì lập ra theo quy định của Luật đóng gói. KPRC có chức năng tài chính, cân đối tài chính để thu tiền của các nhà sản xuất các mặt hàng đóng gói (nước uống đóng chai, vỏ hộp, bao bì), họ lập ra KORA (theo quy định của Luật đóng gói) để thực hiện các hoạt động mang tính chuyên môn, kỹ thuật để tổ chức tái chế như lựa chọn nhà tái chế. Như vậy, do đặc thù của ngành bao bì có rất nhiều thành viên và sản phẩm có số lượng lớn, đa dạng nên họ tách PRO thành hai tổ chức riêng biệt trong đó KPRC thu tiền từ nhà sản xuất và trả tiền cho KORA để KORA đứng ra tổ chức việc tái chế theo quy định.

Các ngành hàng khác như pin, ắc quy, săm lốp, đồ điện tử thì PRO vừa có chức năng tài chính vừa có chức năng về chuyên môn, kỹ thuật trong việc tổ chức tái chế do các mặt hàng này có số lượng và chủng loại không lớn và đa dạng như mặt hàng đóng gói, bao bì.

– Ở Đài Loan thì PRO chính là Quỹ tài chế do Nhà nước lập ra, là PRO chung cho tất cả các ngành hàng có sản phẩm phải thu hồi để tái chế.

Về các công cụ hỗ trợ

EPR phải là tổng thể của tất cả các hoạt động làm tăng tỷ lệ tái chế đối với các sản phẩm sau sử dụng. Ở phần trên đã nói đến hoạt động tái chế với tư cách là yếu tố cốt lõi của hệ thống EPR. Còn dưới đây là các công cụ hỗ trợ, có thể khái quát ở mô hình sau:

Hình 2: Các công cụ hỗ trợ

Giải thích hình 2:

– Thuế nguyên liệu thô: thuế đánh vào nguyên liệu thô (khai thác từ thiên nhiên) để làm nguyên liệu sản xuất ra nguyên vật liệu hoặc hàng hóa. Nếu tăng thuế nguyên liệu thô thì sẽ thúc đẩy được việc tìm kiếm và sử dụng nguyên liêu thay thế như nguyên liệu từ tái chế hoặc nhà sản xuất phải thay đổi thiết kế để tối ưu hóa sử dụng nguyên liệu.

– Phí thải bỏ trả trước (ADF): là phí được tính dựa vào kết quả ước tính chi phí thu hồi và xử lý sản phẩm sau thải bỏ. Người mua sản phẩm phải trả thêm chi phí này nếu sử dụng sản phẩm. Nếu không sử dụng thì phí này sẽ được hoàn trả.

– Đặt cọc/ hoàn trả: là việc người tiêu dùng phải trả thêm một số tiền để bảo đảm cho việc người tiêu dùng đến một địa điểm nhất định để nhận lại số tiền đó sau khi bàn giao lại sản phẩm sau sử dụng.

– Thu hồi (thu hồi sản phẩm sau khi sử dụng): như giải thích ở hình 1. Ở đây cho thấy việc thu hồi và tái chế sản phẩm sau sử dụng để cho ra các sản phẩm tái chế có thể được sử dụng để sản xuất sản phẩm hoặc dùng để sản xuất nguyên, vật liệu.

– UCTS: Upstream Combination Tax/ Subsidy: Kết hợp thuế đầu nguồn và trợ cấp: là loại thuế do nhà sản xuất phải chi trả, sau đó được dùng để hỗ trợ nhà thu gom, tái chế sản. Thuế đánh vào các sản phẩm trung gian như nhôm thỏi, giấy cuộn của một loại giấy cụ thể và thép tấm. UCTS khuyến khích nhà sản xuất sử dụng vật liệu thay thế và đưa ra một cơ chế tài chính để hỗ trợ việc thu gom, tái chế.

– Quy định, quy chuẩn về sản phẩm, bao bì là các quy định buộc các nhà sản xuất phải tuân thủ để tạo thuận lợi cho việc thu gom, tái chế, tạo thị trường cho sản phẩm tái chế như quy định về thiết kế dễ phân loại, thu gom, tái chế; áp dụng tỷ lệ lệ tối thiểu sử dụng nguyên liệu tái chế trong việc sản xuất nguyên vật liệu, sản phẩm hàng hóa.

– Cơ sở dữ liệu về EPR: là công cụ nhằm quản lý thông tin đối với hệ thống EPR trong đó ghi nhận, phân tích các báo cáo từ PRO; thực hiện đăng ký tham gia hệ thống EPR đối với các nhà sản xuất, nhà thu gom, nhà tái chế; thực hiện nâng cao nhận thức cộng đồng.

Xu hướng EPR trên thế giới:

Chính sách thực hiện EPR ngày càng được ứng dụng rộng rãi trên thế giới (từ 1970 đến 2010 xu hướng áp dụng EPR tăng đột biến, đến nay đã có hơn 350 chính sách về EPR được thông qua), trong đó phổ biến là các nước phát triển như các nước Châu Âu, các nước phát triển ở Châu Á:


Hình 3. Sự phát triển của các chính sách EPR trên thế giới

Trong số các chính sách về EPR thì phổ biến nhất là chính sách thu hồi sản phẩm thải bỏ (chính sách tái chế) (chiếm 70%) sau đó đến chính sách đặt cọc hoàn trả (11%) tiếp theo là phí thải bỏ trả trước (ADF) (17%). Các chính sách này áp dụng đối với các sản phẩm, bao bì, chủ yếu là các thiết bị điện, điện tử (35%), các sản phẩm lốp (18%) và bao bì, đóng gói (17%):

Hình 4. Chính sách EPR liên quan đến các công cụ áp dụng và đối tượng áp dụng

Lợi ích của việc áp dụng EPR

– Lợi ích về môi trường: EPR giúp tăng tỷ lệ tái chế, từ đó các vật liệu gây hại cho môi trường trong quá trình tiêu dùng được quay vòng trong chu trình sản xuất, tiêu dùng, thu gom, tái chế từ đó giảm tác động tiêu cực của các vật liệu này đối với môi trường.

– Lợi ích về kinh tế: Xây dựng cơ chế tham gia cho các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị của các sản phẩm, bao bì thuộc diện phải thu hồi, tái chế. Cải thiện kinh doanh và thu hút đầu tư để phát triển hơn nữa lĩnh vực tái chế và xử lý chất thải. Góp phần tạo ra việc làm và việc làm chất lượng cao trên bình diện thu nhập, trình độ và điều kiện làm việc. Giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô và nâng cao sức cạnh tranh của nguyên liệu thứ cấp. Hỗ trợ du lịch thông qua môi trường trong sạch hơn

– Lợi ích về xã hội: Góp phần cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng về cách phân loại, xử lý chất thải tại nhà . Mang lại cho các gia đình một môi trường có lợi cho sức khỏe. Nâng cao năng lực sản xuất, BVMT của đội ngũ thu gom, tái chế phi chính thức (hệ thống đồng nát, làng nghề). Tăng cường tương tác giữa những các bên cung cấp nguyên liệu, thiết kế và sản xuất bao bì, kinh doanh hàng tiêu dùng, bán lẻ và xử lý chất thải. Góp phần giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp khi tạo ra các công việc mới.

Thực tiễn áp dụng ở Hàn Quốc và Đài Loan cho thấy cơ chế EPR đã phát huy được hiệu quả tích cực trong quản lý chất thải rắn. Tại Hàn Quốc khối lượng tái chế tăng 75% trong hơn 10 năm (năm 2003: 1.047.000 tấn lên 1.837.000 tấn năm 2017), trong đó năm 2017: 92% chất thải nhựa được tái chế (năm 2003: 172.000 tấn lên 883.000 tấn năm 2017). Ở Đài Loan, thì lượng rác thải tính trên đầu người có xu hướng giảm dần (giảm từ 1,15 kg/người năm 1998 xuống 0,87 kg/người năm 2014), nhưng tỷ lệ tái chế lại có xu hướng tăng (tăng từ 3% năm 1998 lên 45% năm 2015)

Hình 5. Mối tương quan giữa lượng rác thải bỏ và lượng rác tái chế tại Đài Loan

2. Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện trách nhiệm tái chế của NSX, NNK theo quy định tại Điều 54 Luật BVMT 2020

Bối cảnh áp dụng EPR ở Việt Nam

EPR đã được áp dụng ở Việt Nam kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường 2005 với chính sách thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ, được cụ thể hóa tại Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg ngày 9/8/20213 của Thủ tướng Chính phủ; Luật Bảo vệ môi trường 2014 tiếp tục quy định trách nhiệm thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ và được cụ thể hóa tại Quyết định 16/2015/QĐ-TTg ngày 22/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên EPR chưa được triển khai một cách hiệu quả trên thực tế. Các doanh nghiệp thực hiện quy định này một cách cứng nhắc, mang tính đối phó như quy định việc thu hồi nguyên đai nguyên kiện của Panasonic, Honda mà không có bất cứ hình thức khuyến khích nào. Quy định thu gom, vận chuyển và xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng được quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 16/5/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được triển khai thông qua sự hỗ trợ của Hiệp hội doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, tuy đã có những kết quả nhất định như nâng cao nhật thức cộng đồng nhưng không được duy trì hiệu quả. Nguyên nhân cơ bản của thực trạng nêu trên là chưa quy định rõ trách nhiệm bắt buộc của nhà sản xuất trong việc đóng góp kinh phí để thu hồi, xử lý sản phẩm sau sử dụng; chưa đặt ra tỷ lệ thu hồi, xử lý và chưa có cơ chế hiệu quả để thực hiện.

Hệ thống thu gom chính thức chủ yếu do URENCO các tỉnh thực hiện với hình thức chủ yếu là chôn lấp còn việc thu gom để tái chế thì chủ yếu do hệ thống phi chính thức (với cách gọi thông thường là đồng nát và làng nghề tái chế) thực hiện.

    Một số vấn đề lưu ý khi xây dựng hệ thống EPR ở Việt Nam

Sự đồng bộ về chính sách: Để hệ thống EPR đi vào hoạt động hiệu quả, thì sự đồng bộ về thiết kế mô hình cốt lõi của hệ thống EPR và công cụ hỗ trợ phải được ban hành đồng bộ, một mặt hình thành cơ chế thu gom, tái chế; một mặt tạo thị trường cho các sản phẩm tái chế. Như vậy, việc ban hành Nghị định quy định chi tiết Điều 54 của Luật BVMT 2020 là điều kiện cần, còn các chính sách về thuế nguyên liệu thô; phí thải bỏ trả trước; đặt cọc/ hoàn trả; UCTS; quy định, quy chuẩn về sản phẩm, bao bì; cơ sở dữ liệu về EPR là điều kiện đủ để thiết lập hệ thống EPR hoàn thiện, hiệu quả. Tuy nhiên, cần phải có sự nghiên cứu để áp dụng từng công cụ ở từng giai đoạn cho phù hợp và có tác động thuận chiều, đồng thời tránh gánh nặng cho doanh nghiệp.

Thực hiện tốt hiệu quả việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt bởi các sản phẩm, bao bì thuộc diện phải thu gom, tái chế chủ yếu nằm trong chất thải rắn sinh hoạt. Ở các nước triển khai EPR thành công đều triển khai việc phân loại chất thải rắn tại nguồn hiệu quả, nhiều nước thực hiện trước khi triển khai EPR rất lâu như Hàn Quốc (khoản 20 năm).

Theo quy định của Luật BVMT 2020 thì việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt dựa trên việc tính chi phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt theo lượng sẽ được triển khai chậm nhất là vào 31/12/2014. Tuy nhiên, để có thể vận hành hệ thống phân loại chất thải rắn sinh hoạt một cách trơn churác này thì cần thêm ít nhất từ 3 đến 5 năm nữa. Như vậy, việc thiết kế hệ thống EPR rất cần sự tham gia của hệ thống thu gom phế liệu phi chính thức (đồng nát) và có một lộ trình hợp lý cho việc áp dụng EPR.

     Khuyến khích, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thu gom, tái chế: Hiện nay, việc thu gom tái chế chủ yếu do công ty môi trường đô thị của các tỉnh, một số công ty tái chế (hệ thống chính thức) và khối tư nhân tự phát như đồng nát và làng nghề (hệ thống phi chính thức). Hệ thống chính thức chủ yếu thực hiện việc chôn lấp trong khi năng lực của các công ty tái chế còn thấp, chưa được tạo điều kiện phát triển. Việc thu gom, tái chế chủ yếu do khối phi chính thức thực hiện. Do vậy, cần đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng thu gom, tái chế theo quy hoạch để đáp ứng yêu cầu vận hành hệ thống EPR. Trong đó, tạo điều kiện để phát triển cơ sở tái chế hiện đạiđai, quy mô tập trung. Nhưng đồng thời cần quan tâm thích đáng đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống phi chính thức.

    Một số vấn đề đặt ra trong quy định chi tiết: Điều 54 Luật BVMT 2020 gồm: (1) Xác định danh mục sản phẩm, bao bì thuộc diện phải thu gom tái chế; (2) xác định tỷ lệ tái chế đối với từng chủng loại sản phẩm, hàng hóa và lộ trình áp dụng; (3) xác định mức đóng góp kinh phí của NSX, NNK; (4) xác định quy chuẩn tái chế đối với từng loại bao bì, sản phẩm sau sử dụng; (5) cơ chế đăng ký, quản lý cơ sở dữ liệu; (6) cơ chế tín chỉ tái chế; (7) cơ chế vận hành của PRO và Quỹ trong bảo đảm thực hiện tỷ lệ tái chế.

– Đối với danh mục sản phẩm, bao bì thuộc diện phải tái chế: Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ đã xác định tương đối đầy đủ các sản phẩm thuộc diện phải thu hồi, tái chế. Tuy nhiên, đến nay chưa được thực hiện do chưa có đủ cơ chế mang tính bắt buộc nêu tại (2), (3) của mục này. Một số sản phẩm cần cân nhắc việc đưa vào danh mục như ô tô, xe máy vì ở nước ta các bộ phận của ô tô, xe máy đều được cải tiến, tận dụng trong khi đó chưa có cơ chế tài chính để thúc đẩy người sở hữu xe thực hiện việc đem đi để thu hồi, tái chế.

– Đối với tỷ lệ tái chế, cần có sự khảo sát kỹ càng, tin cậy về tỷ lệ tái chế trên thực tế ở nước ta để đặt ra tỷ lệ tái chế phù hợp. Nếu đặt ra tỷ lệ tái chế thấp hơn thực tế thì EPR mất tác dụng, nếu đặt cao quá so với tỷ lệ này thì không khả thi.

– Mức đóng góp của NSX, NNK nên để các PRO tự xác định trên cơ sở tính toán chi phí để thực hiện tỷ lệ tái chế. Đối với trường hợp nộp vào Quỹ BVMT Việt Nam thì cần có phương pháp xác định sát với thị trường với sự tham gia của các NSX, NNK và các hiệp hội của họ.

– Quy chuẩn tái chế cũng cần phải được khảo sát kỹ càng, tin cậy để bảo đảm yêu cầu tái chế không thấp hơn thực tiễn tái chế hiện nay, vì nhiều cơ sở tái chế có khả năng tái chế sâu các sản phẩm, bao bì. Ví dụ, họ đã tái chế thành hạt nhựa chất lượng cao thay vì chỉ làm sạch, băm nhỏ nó.

– Việc quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về EPR, hệ thống đăng ký phải được hoàn thiện và đi trước một bước để thúc đẩy việc hình thành, quản lý và kiểm soát hệ thống.

– Cơ chế tín chỉ tái chế rất quan trọng để khuyến khích cơ sở có tỷ lệ tái chế cao hơn tỷ lệ bắt buộc, phần cao hơn được cấp tín chỉ để trao đổi trên thị trường nhằm bù đắp cho cơ sở có tỷ lệ tái chế thấp hơn tỷ lệ bắt buộc.

– Cơ chế hoạt động của PRO cần được xây dựng theo hướng khuyến khích phát triển, đề cao sự tự do liên kết của các NSX, NNK trong thực hiện trách nhiệm của mình, đồng thời giảm bớt gánh nặng của nhà nước trong việc xác định mức đóng góp của NSX, NNK.

Đây là cơ chế tiên tiến, có hiệu quả trong thực hiện tái chế, tuần hoàn tài nguyên thúc đẩy sự phát triển kinh tế tuần hoàn, BVMT, xây dựng nếp sống văn minh, hiện đại. Để thực hiện được hiệu quả cơ chế này thì cần có sự đồng bộ trong chính sách và sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Nhiêu quốc gia đã phải trải qua một lộ trình dài với nhiều thử nghiệm ở nhiều mô hình khác nhau. Nnhưng các quốc gia đó đều thành công và chắc chắn Việt Nam sẽ là một trong những nước như vậy trong tương lai không xa.

Nguyễn Thi

Bộ TN&MT

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 12/2020)

Share

(TBKTSG Online) – Bỏ ra số tiền lên tới 60 triệu đô la Mỹ, cử đội ngũ nhân sự chuyên ngành ngược xuôi các nước tìm kiếm công nghệ phù hợp, xây dựng mạng lưới thu mua vỏ chai đã qua sử dụng…, Nhựa Duy Tân chấp nhận đi con đường khó khi đầu tư nhà máy nhựa tái chế. Đó là cách để doanh nghiệp góp phần giải quyết vấn đề đang nhức nhối hiện nay: chất thải nhựa.

“Rất nhiều người nói rằng, tình trạng rác thải nhựa như hiện nay là lỗi của các công ty nhựa. Nói vậy thì không đúng cho Duy Tân, vì chúng tôi sản xuất những đồ dùng gia đình mà mọi người xài cả chục năm chưa hỏng. Nhưng tình trạng đó khiến chúng tôi hành động”, ông Lê Anh, Giám đốc Tiếp thị (Marketing) của Công ty cổ phần Sản xuất Nhựa Duy Tân, nói về động lực để công ty đầu tư nhà máy nhựa tái chế có số vốn lên đến 60 triệu đô la ở Long An.

Tính đến thời điểm này, đây là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng công nghệ tái chế “Bottles to Bottles” (chai ra chai), tức dùng chai nhựa cũ tái chế thành hạt nhựa để làm nguyên liệu sản xuất chai nhựa mới.

Ông Lê Anh chia sẻ, phát triển nhà máy nhựa tái chế nằm trong chiến lược của Duy Tân. Đó là lý do ông Trần Duy Hy, Tổng giám đốc công ty cách đây nhiều năm đã mua đất ở cụm công nghiệp nhựa tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, diện tích lên tới 65.000 mét vuông, chờ ngày xây nhà máy.

Kế hoạch được ấp ủ và thực hiện trong 3 năm. Đó là quãng thời gian, theo lời ông Lê Anh, các thành viên trong ban dự án làm việc miệt mài, họp bàn liên tục để tìm giải pháp. Bởi lẽ, nhà máy nhựa tái chế khác rất nhiều so với những gì Duy Tân từng làm trước đây. “Nếu như sản xuất nhựa từ hạt nhựa nguyên sinh nhập khẩu thì mỗi máy hoạt động độc lập và ra thành phẩm là bán được thì làm nhựa tái chế khó hơn rất nhiều. Các máy phải liên kết với nhau thành hệ thống đồng nhất. Mọi thứ phải được tính toán kỹ lưỡng, đòi hỏi sự tỉ mỉ, chi tiết. Chưa hết, các bộ phận trong công ty từ kỹ thuật, nghiên cứu phát triển đến thu mua, bán hàng cũng phải làm việc chặt chẽ với nhau. Nói chung, làm nhựa bình thường 6 phần thì làm tái chế phải 8 – 9 phần”, ông Lê Anh kể.

Phần khó khăn nhất là lựa chọn công nghệ, do chính ông Hy và Giám đốc dự án, ông Huỳnh Ngọc Thạch đảm nhận giải quyết. Suốt 2 năm ròng rã, ông Hy và ông Thạch ngược xuôi khắp các nước châu Âu và cả Hong Kong để tìm hiểu các nhà máy cung ứng công nghệ, nhà máy nhựa tái chế. Có rất nhiều lựa chọn phải cân nhắc. Cuối cùng, Duy Tân chọn công nghệ của nhà cung cấp tại Áo, một nước có ngành công nghiệp tái chế phát triển.

Duy Tân cũng đánh giá rủi ro nhất khi thực hiện dự án là nguồn cung và chất lượng nguyên liệu phục vụ cho nhà máy tái chế có thể không đảm bảo. Bao nhiêu năm qua, các doanh nghiệp tái chế “khóc ròng” vì khâu phân loại, xử lý rác thải hạn chế. Chưa hết, có thể thị trường sẽ có thêm doanh nghiệp tham gia, chia sẻ nguồn cung.

“Chúng tôi đã có 33 năm trong ngành, hiểu về nhựa, về hạt nhựa nên quyết định đầu tư dự án. Một khi đã quyết định làm là cứ làm tới, không nhìn lại, khó khăn đến đâu thì tháo gỡ đến đó. Đến nay thì các vấn đề khó khăn, rủi ro đều đã có cách giải quyết”, ông Lê Anh chia sẻ.

Để có nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy tái chế, Duy Tân đã gầy dựng được mạng lưới hơn 80 đại lý đạt chuẩn, thực hiện thu mua, phân loại và đóng kiện các chai nhựa đã qua sử dụng. Giá mỗi ki lô gam nhựa nguyên liệu đã được xử lý, tương đương khoảng 200 vỏ chai, đang được Duy Tân mua cho các đại lý với giá cao hơn giá bán “xô” bình thường. Các vựa cũng thích hợp tác với Duy Tân vì có thêm việc làm cho người lao động, lại làm ăn uy tín.

Ở giai đoạn 1 này, mỗi ngày, Duy Tân thu mua 60 tấn vỏ chai đã qua sử dụng. Tính ra một năm, số lượng này lên tới cả 20.000 đến 22.000 tấn, một con số có ý nghĩa với môi trường. Trong kế hoạch, nhà máy nhựa tái chế sẽ sản xuất khoảng 100.000 tấn hạt nhựa mỗi năm khi đã hoàn thành giai đoạn 2, 3 và không chỉ dừng ở nhựa PET như giai đoạn 1 mà còn có nhựa PP, HDPE. Lúc đó sẽ có thêm rất nhiều vỏ chai nhựa và nhiều sản phẩm khác từ nhựa, như bàn ghế, tủ quần áo… được thu gom và tái chế để qua đó giảm thiểu lượng nhựa nguyên sinh để sản xuất sản phẩm mới. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ giảm được lượng dầu mỏ sử dụng, góp phần bảo vệ môi trường.

Điểm sáng và cũng là lực đẩy để Duy Tân triển khai nhanh dự án là thị trường có phần rộng mở vì các khách hàng của Duy Tân đang sẵn sàng cho việc sử dụng nhựa tái chế. Đây là cách để các doanh nghiệp phát triển bền vững, gia tăng uy tín thương hiệu cũng như thực hiện cam kết với các bên liên quan.

Giá phôi nhựa làm từ nhựa tái chế rồi từ đó sản xuất các loại chai hiện đang cao hơn phôi làm từ hạt nhựa nguyên sinh. Tuy nhiên, các khách hàng, vốn cũng đã mua hàng từ Duy Tân nhiều năm qua, như Nestle, Lavie đã tìm hiểu và cân nhắc. Trong khi đó, khách hàng truyền thống khác là Unilever Việt Nam thì đã ký hợp đồng nguyên tắc dù quí 4 tới đây, nhà máy nhựa tái chế mới có sản phẩm thương mại.

Duy Tân tính toán, sản lượng 20.000 tấn/năm cho giai đoạn đầu, sẽ chẳng thấm tháp vào đâu so với nhu cầu thị trường. Bởi lẽ chỉ một khách hàng thôi thì khối lượng vỏ chai nhựa sử dụng đã lớn hơn nhiều lần số đó.

Trong khi đó, rất nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhanh tại Việt Nam tham gia Liên minh tái chế bao bì Việt Nam (PRO Vietnam) đã đặt ra tham vọng đến năm 2030 tất cả các bao bì đưa ra tiêu thụ trên thị trường sẽ được thu gom và tái chế. Duy Tân kỳ vọng, nhà máy nhựa tái chế sẽ là động lực tiếp theo của công ty, đóng góp 20 – 25% trong tổng doanh thu.

Tiềm năng thị trường đó cũng chính là một trong những lực đẩy để Duy Tân nhanh chóng triển khai dự án, không nhìn đối thủ, cũng không đặt nặng việc có hay không chính sách hỗ trợ từ Nhà nước như cách lâu nay vẫn làm. Vì chờ thì sẽ trễ và môi trường cũng không thể chờ thêm. Tất nhiên, Duy Tân mong muốn có được sự hỗ trợ về điện, về thuế… để có thêm động lực đầu tư cũng như có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia ngành tái chế. Có càng nhiều doanh nghiệp tái chế thì môi trường sẽ càng có cơ hội được “cứu”.

“Chúng tôi đang làm những gì trong khả năng của mình, đó là làm sao thu gom, tái chế nhiều nhất có thể để giảm rác thải nhựa ra môi trường. Còn những chuyện lớn hơn như bảo vệ môi trường, ý thức của người tiêu dùng thì phải cần sức lực của rất nhiều bên. Tỷ lệ sử dụng nhựa trên đầu người ở Việt Nam không phải ở mức cao trên thế giới nhưng chúng ta lại là một trong những nước xả thải nhựa ra đại dương nhiều nhất thì quả là điều đáng buồn”, ông Lê Anh nói.

Share

Nhựa Duy Tân là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam nhận gói tín dụng xanh từ Ngân hàng HSBC.

Ông Nguyễn Bảo Quốc – Giám đốc Tài chính Công ty CP Sản xuất nhựa Duy Tân cho biết, doanh nghiệp sẽ đầu tư xây dựng nhà máy tái chế nhựa quy mô 65.000 m2 tại huyện Đức Hòa (tỉnh Long An) nhằm đáp ứng yêu cầu xanh hóa theo xu hướng thế giới.

Dự kiến sau khi đi vào hoạt động từ quý IV/2020, đây sẽ là nhà máy đầu tiên tại Việt Nam áp dụng công nghệ tái chế bottles-to-bottles, tức tái chế chai nhựa phế liệu thành chai nhựa mới, đạt chuẩn FDA để sử dụng trong bao bì thực phẩm. Năng lực sản xuất dự kiến khoảng 100.000 tấn mỗi năm.

Trước mắt, giai đoạn đầu của dự án được tài trợ tín dụng xanh bởi ngân hàng HSBC, do đó đạt chuẩn tín dụng xanh toàn cầu, có khả năng tiếp cận các thị trường vốn quốc tế trong tương lai. Đây cũng là khoản tín dụng xanh đầu tiên mà ngân hàng này cấp cho một doanh nghiệp Việt Nam trong tổng số 100 tỷ USD đơn vị cam kết để đầu tư bền vững trên toàn cầu đến năm 2025.

Theo ông Trần Duy Hy – Tổng giám đốc Nhựa Duy Tân, doanh nghiệp hiện đạt mức doanh thu 5.000 tỷ đồng mỗi năm. Giai đoạn dịch Covid-19 vừa qua, doanh nghiệp này không chịu tổn thất quá lớn, do tận dụng được lợi thế giá nhựa giảm, đồng thời lĩnh vực cung cấp bao bì phát triển cùng một số ngành hàng được tiêu thụ nhiều như nước rửa tay, dung dịch sát khuẩn…

Share

(TBKTSG Online) – HSBC Việt Nam sẽ cung cấp khoản vay xanh trong giai đoạn một của dự án Nhà máy tái chế nhựa Duy Tân với tổng vốn đầu tư lên tới 60 triệu đô la Mỹ của Công ty cổ phần Sản xuất Nhựa Duy Tân (Duy Tân).

Đây sẽ là khoản tín dụng xanh đầu tiên HSBC thu xếp cho một doanh nghiệp Việt Nam trong tổng số 100 tỉ đô la Mỹ mà ngân hàng này cam kết sử dụng cho tài trợ và đầu tư bền vững trên toàn cầu cho đến năm 2025. Tính đến cuối năm 2019, ngân hàng đã hỗ trợ tài chính trị giá 52,4 tỉ đô la cho các khoản vay và đầu tư bền vững.

Chương trình tài trợ tín dụng xanh của HSBC cũng đáp ứng chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh của Chính phủ Việt Nam và kế hoạch phát triển ngân hàng xanh của Ngân hàng Nhà nước.

Dự án xây dựng nhà máy nhựa tái chế của Duy Tân gồm ba giai đoạn, tổng vốn đầu tư là 60 triệu đô la. Khoản tín dụng xanh mà HSBC cung cấp cho Duy Tân là bước đầu tiên trong giai đoạn 1 của toàn bộ dự án. Sau khi nhà máy hoạt động một năm, Duy Tân và HSBC sẽ cùng đánh giá lại hiệu quả hoạt động, từ đó sẽ có quyết định điều chỉnh, và nhận tư vấn và tiếp tục tài.

Nhà máy có công suất dự kiến lên tới 100.000 tấn mỗi năm cũng là nơi đầu tiên tại Việt Nam áp dụng công nghệ tái chế “Bottles to Bottles”  (Chai ra Chai). Để nhận được khoản tài trợ tín dụng xanh này, dự án của Duy Tân đã trải qua quy trình quản lý và phê duyệt tín dụng nghiêm ngặt về tài chính bền vững của HSBC, được kiểm soát bởi Ủy ban cho vay bền vững của HSBC tại Châu Á – Thái Bình Dương.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước đến hết tháng 6-2019, dư nợ tín dụng đối với các dự án xanh là 310.600 tỉ đồng, tăng 29% so với năm 2018. Dư nợ tín dụng xanh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp xanh chiếm 46% tổng dư nợ, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 15%, quản lý nước bền vững tại khu vực đô thị và nông thôn chiếm 11% và lâm nghiệp bền vững chiếm 5% tổng dư nợ tín dụng xanh.

HSBC hiện đang cung cấp tín dụng xanh cho một số dự án, hướng đến khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Cụ thể, năm 2019, HSBC giới thiệu tín dụng xanh hỗ trợ khách hàng cá nhân vay tín dụng để lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời áp mái. Đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp, HSBC cũng đang triển khai tài trợ cho công trình tòa nhà văn phòng xanh tại trung tâm TPHCM.

 

Share

Theo dõi bản tin của chúng tôi

Đăng ký để nhận tin tức và cập nhật về môi trường.